Phân tích tác phẩm Đây Thôn Vĩ Dạ – Ngữ Văn 11

Loading...
()

Đang tải…

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và xuất xứ bài thơ

-Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mĩ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới (nay là tỉnh Quảng Bình) trong một gia đình viên chức nghèo theo đạo Thiên Chúa. Sau khi học trung học ở Huế, ông làm ở Sở Đạc điền Bình Định, sau đó vào Sài Gòn làm báo. Năm 1936, do mắc bệnh phong nên ông về hẳn Quy Nhơn chữa bệnh rồi mất ở trại phong Quy Hoà.

Cuộc đời Hàn Mặc Tử tuy ngắn ngủi, nhiều “đau thương” nhưng sức sáng tạo của ông lại rất dồi dào, mạnh mẽ. Hàn Mặc Tử nổi tiếng là thần đồng thơ ở Quy Nhơn lúc mới 14 – 15 tuổi. Ông sáng tác thơ vói nhiều bút danh. Hàn Mặc Tử bắt đầu con đường thơ bằng thơ Đường luật ; khi phong trào Thơ mới khởi phát, ông chuyển sang khuynh hướng lãng mạn. Hàn Mặc Tử vẫn được đánh  giá là hiện tượng thơ kì lạ bậc nhất của phong trào Thơ mới.

-Xuất xứ bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ khá đặc biệt. Hồi làm ở Sở Đạc Điền tỉnh Bình Định, Hàn Mặc Tử đem lòng yêu con gái ông chủ Sở, người Huế, tên là Hoàng Thị Kim Cúc. Hai ngưòi chưa tỏ lòng nhau thì Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo. Ra đi mà lòng vẫn hi vọng. Đến lúc trở lại Quy Nhơn mới hay Hoàng Cúc đã theo cha về hẳn ngoài Huế, Hàn Mặc Tử vô cùng đau khổ. Về sau, khi biết tin Hàn Mặc Tử lâm bệnh hiểm nghèo, theo lời khuyên của Ngâm – người em họ Hoàng Cúc và cũng là bạn thân của Hàn Mặc Tử – Hoàng Cúc đã gửi vào cho Hàn Mặc Tử một bức ảnh phong cảnh. Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng (hay ánh mặt trời) chiếu xuống mặt nước, với lời thăm hỏi sức khoẻ mà không kí tên, rồi nhờ Ngâm gửi. Nhận được tấm bưu ảnh ấy trong nỗi cô đơn, xa cách với tất cả, Hàn Mặc Tử vô cùng cảm kích. Thế là bài Đây thôn Vĩ Dạ ra đời. Cảm hứng thơ thức dậy từ tấm bưu ảnh nhưng nó là tiếng lòng đầy uẩn khúc của một tình yêu đơn phương mãnh liệt mà vô vọng, là nỗi khát sống, niềm thiết tha gắn bó với cuộc đời của một thi sĩ gặp “hoạn nạn nơi trần thế” khi tuổi còn rất trẻ.

2.Tri thức văn hoá

Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ trong sáng nhưng lại được Hàn Mặc Tử xếp vào tập Thơ Điên (về sau đổi là Đau thương). Đặc trưng chủ yếu của tập thơ này đã được các nhà nghiên cứu xác định như sau :

-Điệu cảm xúc đặc thù là đau thương ;

-Hình tượng chủ thể trữ tình là “cái tôi” li hợp bất định (vừa là mình vừa tự phân thân) ;

-Hệ thống hình ảnh đặc thù là những hình ảnh kì dị, kinh dị ;

-Mạch liên kết trong tập thơ là dòng tâm tư bất định với những đứt nối đầy bất ngờ ;

Xem thêm  Bài tập tổng hợp Toán 11 có đáp án (Phần 9)

-Lớp ngôn từ nổi bật của tập thơ là lớp từ cực tả.

Có lẽ ở bài Đây thôn Vĩ Dạ, dạng cảm xúc là nỗi khát khao nhuốm đau thương với những uẩn khúc của nó cùng mạch liên kết đứt – nối, ngôn từ thơ có thiên hướng cực tả rải rác trong bài thơ này nên Hàn Mặc Tử mới xếp nó vào tập Thơ Điên. Điều này cần được lưu ý trước khi phân tích bài thơ.

II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.Kết cấu bài thơ

Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có ba khổ thơ, mỗi khổ là một cảnh sắc, một tâm tình ngỡ như không có liên hệ gì với nhau nhưng thực ra vẫn có chỗ liền nhau. Đó là trạng thái xúc cảm – một dòng chảy gồm những đứt – nối của lòng yêu cuộc sống đến khắc khoải. Đây cũng chính là nét độc đáo của bài thơ này.

-Khổ 1 : Cảnh hàng cau, vườn thôn Vĩ dưới ánh nắng ban mai đẹp tinh khôi. Ẩn trong cảnh là nỗi ước ao, niềm đắm say của nhân vật trữ tình.

-Khổ 2 : Cảnh sông nước đêm trăng huyền ảo. Nhân vật trữ tình dường như mong ngóng, lo âu.

-Khổ 3 : Cảnh trong mộng. Cảm xúc của nhân vật trữ tình là hoài nghi, mơ mộng.

2.Phân tích từng khổ thơ

a.Khổ thơ thứ nhất

Mở đầu bài thơ là câu hỏi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?”. Lời thơ khơi dòng thi tứ là một câu hỏi trong tâm tưởng nhà thơ như muốn khẳng định lời thăm hỏi của người thôn Vĩ – người ông vẫn thầm yêu trộm nhớ – không phải trong mơ mà là có thật; và như thế, thi sĩ như phân thân để nói với mình về Cúc : “Em bảo sao anh không về thôn Vĩ ư ?”, “Sao mình lại không về thôn Vĩ nhỉ ?”… Câu thơ như một lời gió thoảng, nhỏ nhẹ, êm ru và ngọt ngào kiểu Huế. Tấm bưu ảnh và những dòng chữ do chính Hoàng Cúc viết đến với nhà thơ lúc bệnh tật, cô đơn như là một liều “thần dược”. Bỗng chốc sinh lực như được hồi sinh, đất trời mở ra tràn đầy sức sống, những hình ảnh về thôn Vĩ ngày xưa, thời Hàn Mặc Tử còn là cậu học trò Trường Pe-lơ-ranh ở Huế, cùng lúc hiện về, tưoi rói, đẹp tinh khôi:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Loading...

Cảnh thôn Vĩ chỉ còn như vậy, ít nét, mơ hồ, không xác định bởi vì đó là cảnh trong cõi nhớ, là những ấn tượng được lưu giữ ở miền kí ức. Nói đến hàng cau vì hàng cau vươn cao đón được nắng mới lên sớm nhất. Nhớ hàng cau bởi vì nhớ cái sắc nắng trong khoảnh khắc hàng cau đón những tia nắng ban mai tinh khiết mà rực rỡ ấy. Cảnh trí vườn tược nhập nhoà đường nét, chỉ còn lại là một ấn tượng về màu xanh mướt mát xanh như ngọc. Cái mướt của vườn đáng nhớ có lẽ vì cái sắc nắng của hàng cau rọi xuống. Rồi không rõ vì sao từ trong kí ức lại trở về một bức chân dung đẹp rất Á Đông : “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”…

Xem thêm  Đường thẳng vuông góc với mặt phẳng – Bài tập Hình học lớp 11

Đọc khổ thơ này – khổ thơ vui nhất của bài – nhiều người nghĩ rằng có thể tình cảm đặc biệt của chàng thi sĩ họ Hàn dành cho cô gái Huế có tên Hoàng Thị Kim Cúc những năm xưa vẫn ấp ủ, giấu kín trong lòng nay bỗng được đánh thức. Vì thế nên cảnh mới đẹp, mới trong, mới rạng ngời như tình yêu mới chớm nở ở thuở ban đầu lưu luyến ấy. Mà cảnh là ẩn tình – là nỗi ước ao được sống, được yêu đắm say mãnh liệt.

b.Khổ thơ thứ hai

Bốn câu ở khổ thơ này chẳng có liên hệ gì vói bốn câu trên, chẳng còn hàng cau với “nắng mới lên”, chẳng còn “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”, cũng chẳng còn “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” nữa. Niềm yêu rạo rực, ngắn ngủi trước vẻ đẹp của tình người, của cảnh đời bỗng vụt tắt. Ấy là vì thi sĩ chợt tỉnh mộng yêu, đối diện với sự thật hiện hữu : giữa thân phận mình với người thôn Vĩ kia là một hố sâu ngăn cách – sự ngăn cách còn đáng sợ hơn nhiều nỗi xa cách về không gian. Đó là chứng bệnh nan y như một bản án tử hình chờ ngày hành quyết. Thi tứ Hàn Mặc Tử lại vụt bay đến cõi đau thương đối lập :

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.

Do trực cảm về sự chia lìa đôi ngả giữa nhà thơ với người thân, với người trong mộng, với cuộc đời rồi sẽ như “Gió theo lối gió, mây đường mây” nên trước mắt nhà thơ, “nắng hàng cau” đã tắt lụi, thay vào đó là “dòng nước buồn thiu”. “Hoa bắp lay” có lẽ cũng là một hình ảnh xuất hiện đột ngột theo dòng cảm xúc hư ảo, mông lung lúc này ; mặc dù, về luận lí, có thể cho rằng đó cũng là một ấn tượng được lưu giữ trong kí ức về thôn Vĩ tái hiện (Trên cồn Hến giữa sông Hương, đối diện vói thôn Vĩ Dạ, có trồng nhiều vạt bắp ; vào mùa, cả một vùng hoa ngút ngát lay động theo gió). Chìm ngập trong mối sầu gió – mây đôi ngả, thi sĩ chỉ còn biết mong ngóng, đợi một người bạn cố tri có vẻ đẹp huyền ảo để phần nào linh hồn bất hạnh được cứu rỗi, được lãng khuây. Đó là vầng trăng vàng, trăng ngọc. Chỉ có trăng là điểm tựa, là niềm an ủi duy nhất. Cho nên thi sĩ hỏi với niềm hi vọng đầy khắc khoải nhưng cũng vô cùng phấp phỏng lo âu :

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay ?

c. Khổ thơ thứ ba

Đến khổ thơ cuối, ta thấy Hàn Mặc Tử vẫn lặng đi trong mơ tưởng :

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Theo tứ thơ và mạch cảm xúc của thi nhân thì câu thơ trên gợi cho ta nghĩ ngay đến một khách… má hồng. Câu sau giúp ta khẳng định sự “suy diễn” trên – “Áo em trắng quá nhìn không ra”. “Khách đường xa” và cả “màu áo trắng” đều là trong tâm tưởng thi sĩ cả. Nhìn vào lòng mình, nhìn vào kí ức để thấy cái màu áo ấn tượng nên nó hư hư thực thực. Thực vì có lí và bất ngờ : trắng quá nên nhìn không ra. Thực mà lại hư ảo vì màu áo ấy bây giờ choán hết cảm xúc của tác giả, nhen lên trong lòng nhà thơ một thứ tình cảm rất khó xác định, rất khó nắm bắt :

Xem thêm  Đề kiểm tra học kỳ I môn Vật Lý lớp 11 – Trường THPT Hòa Bình

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà ?

Câu thơ kết không giấu nổi nỗi ngậm ngùi, nghi ngại trong lòng chàng thi sĩ thân bệnh nhưng lòng khao khát được yêu thương. Nêu ở cuối khổ thơ thứ hai, thi sĩ vừa cầu cứu trăng làm tan mối sầu thương vừa lo âu ước nguyện không thành (“Có chở trăng về kịp tối nay ?”) thì kết thúc khổ thơ cuối cùng của bài, dường như thi sĩ muốn bấu víu vào tình người thôn Vĩ, vào tình đời mà sống trong cơn hoạn nạn.

Câu thơ kết bài cũng là một câu hỏi – hỏi trong lúc đã tỉnh chứ không còn mộng. Nó vang ứng với câu hỏi đầu tiên và để lại dư ba trong lòng người đọc :

Ai biết tình ai có đậm đà ?

Chẳng nhẽ thi sĩ lại nói trắng ra là : “Không biết tình em có đậm đà không mà anh về thôn Vĩ”. Bài thơ trong sáng. Đọc bài thơ, ai cũng cảm nhận được vẻ đẹp hư ảo của nó nhưng dù phân tích thế nào thì vẻ đẹp ấy vẫn là một bí ẩn. Bài thơ trong sáng mà buồn thấm thìa.

3.Đặc điểm về nghệ thuật

Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử được đánh giá là một kiệt tác, bởi bài thơ mở ra một hướng tìm tòi về thi pháp của thơ mới lãng mạn. Ở bài thơ này, cái nghịch lí của tồn tại được biểu đạt một cách súc tích, thông qua sự trải nghiệm cá nhân của riêng thi sĩ Hàn Mặc Tử ; hình tượng thơ đa nghĩa, biến ảo lung linh. Mỗi khổ thơ là một câu hỏi giúp người đọc dần dần khám phá “cái tôi” trữ tình đầy mâu thuẫn của thi nhân – niềm xốn xang trong hoài niệm về thôn Vĩ; sự mặc cảm về thân phận “chậm chân”, “lỡ chuyến” giữa cuộc đời; sự ám ảnh về cõi mơ, về tình trạng gió – mây đôi ngả trong cuộc đời và trong tình yêu; cảm giác lo âu, phấp phỏng, mong chờ,… – giúp ta cảm nhận bản năng sống vô cùng mãnh liệt của chủ thể trữ tình, một thi nhân tài hoa dù lâm vào tình cảnh bi đát nhưng không thôi tra vấn về ý nghĩa cuộc đời.

Thấy bài viết hay hãy đánh giá làm động lực cho chúng tôi bạn nhé

Chọn số sao muốn đánh giá

Xếp hạng trung bình / 5. Số lượng đánh giá:

Chưa có đánh giá nào cho bài viết. Bạn hãy đánh giá để làm người đánh giá đầu tiên cho bài viết này

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *